Đoàn kết – trung thực – sáng tạo – hiệu quả - chất lượng

Phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng Đại học Thái Nguyên thành đại học trọng điểm của cả nước

Đăng ngày: 12-08-2020 | 303 lần đọc
|

Đại hội đại biểu Đảng bộ ĐHTN lần thứ VI, nhiệm kỳ 2020-2025 được diễn ra từ ngày 13 đến 14/8. Đây là dịp khẳng định quyết tâm, phát huy sức mạnh tổng hợp để xây dựng ĐHTN thành đại học trọng điểm, trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học chất lượng cao, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Trước thềm đại hội, phóng viên Cổng Thông tin điện tử tỉnh đã lược ghi ý kiến tâm huyết của các đại biểu gửi tới sự kiện chính trị quan trọng này.

Hướng tới nâng hạng ĐHTN theo bảng xếp hạng Quốc tế (QS)

1.png

Đ/c Nguyễn Hữu Công, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc ĐHTN

Xếp hạng đại học hiện nay đang là một xu hướng của giáo dục đại học trên thế giới. Việc tham gia xếp hạng quốc tế không những đảm bảo tính minh bạch, định lượng mà còn góp phần nâng cao uy tín của cơ sở giáo dục trên trường quốc tế. Mục đích ĐHTN hướng tới các xếp hạng quốc tế không phải để xếp hạng cao mà là nâng cao chất lượng. Bởi việc nâng cao chất lượng gắn với việc xếp hạng để thấy được trường đại học đạt ở đâu, thiếu gì để hoàn thiện, bên cạnh đó còn nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm với cộng đồng để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Với định hướng đạt được vị thế trên bản đồ giáo dục đại học toàn cầu, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo và thống nhất các trường đại học ở Việt Nam chọn Bảng xếp hạng QS để tham gia xếp hạng quốc tế. Và ĐHTN cũng không nằm ngoài xu thế này. QS xếp hạng các trường đại học dựa phần lớn vào kết quả khảo sát, xét về khía cạnh truyền thông, có thể nói QS rất thành công trong việc đưa sản phẩm của mình đến với công chúng và trở thành một trong những bảng xếp hạng được biết đến nhiều nhất, đặc biệt là ở Việt Nam. Có hai yếu tố giúp tạo nên sự thành công của QS, đó là giúp tăng cường quảng bá tuyển sinh tầm quốc tế và các tiêu chí đánh giá không quá khắt khe như các bảng xếp hạng khác.

Để nâng cao chất lượng gắn với việc hướng tới xếp hạng QS, ĐHTN cần tập trung vào một số giải pháp nhằm khẳng định thương hiệu, xếp hạng bền vững như: Tăng cường công tác quảng bá Đại học trên mạng quốc tế để khẳng định ĐHTN là một cơ sở giáo dục đại học thống nhất, bao gồm các đơn vị thành viên để tập hợp sức mạnh; nâng cao chất lượng nội dung thông tin các trang web tiếng Anh của các đơn vị; công khai thông tin trên website đơn vị; có chế độ chính sách tôn vinh, khuyến khích công bố khoa học và công bố có trích dẫn cao từ danh mục ISI/Scopus. Cùng với đó, tăng cường quan hệ hợp tác nhằm phát triển, duy trì mạng lưới liên kết với nhà tuyển dụng; phát triển, duy trì mạng lưới liên kết trong nghiên cứu khoa học (kết nối quốc tế, kết nối trong nước). Ngoài ra, ban hành Quy định chính sách về công bố khoa học qua việc bổ sung địa chỉ công tác “Đại học Thái Nguyên” (Thai Nguyen University) trong các công bố mới - đặc biệt với các nghiên cứu sinh đang học tập tại các đơn vị giáo dục khác; khuyến khích phối hợp công bố với các nhà khoa học quốc tế; hằng năm, tôn vinh các công bố của TNU có trích dẫn cao. Đồng thời, tìm kiếm nguồn tài trợ tài chính để hỗ trợ nghiên cứu khoa học, có các công bố thứ hạng cao, được các nhà khoa học quốc tế trích dẫn; hỗ trợ các công trình nghiên cứu có cộng tác quốc tế.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong môi trường giáo dục đại học

2.jpg

Đ/c Hà Trần Phương, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học sư phạm

5 năm qua, Đảng bộ các trường thuộc ĐHTN nói chung và Đảng bộ Trường Đại học Sư phạm nói riêng đã triển khai nhiều giải pháp và đã đạt được nhiều thành tựu về công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác Đảng còn một số hạn chế nhất định. Từ những tồn tại đó, chúng tôi nhận thấy vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn hiện nay nói chung và trong môi trường trí thức nói riêng là hết sức quan trọng và có ý nghĩa. Để nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong môi trường giáo dục, Đảng bộ Trường Đại học Sư phạm đưa ra một số giải pháp sau: Nâng cao nhận thức của các tổ chức Đảng và đảng viên, đặc biệt là của các cấp ủy, chi bộ và người đứng đầu về vai trò của công tác xây dựng Đảng; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng nhằm tạo sự đồng thuận và nhất trí cao trong tư tưởng và hành động. Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ, tổ chức sinh hoạt theo chuyên đề gắn với tình hình đặc điểm, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng. Tăng cường công tác quản lý đảng viên, gắn với việc nâng cao chất lượng đảng viên, đề cao việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, tính tiền phong gương mẫu, nói đi đôi với làm để cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng cho nhân dân noi theo. Phát huy, duy trì công tác phát hiện, tuyên truyền nhân rộng gương người tốt, việc tốt, thường xuyên tổ chức việc “học tập” và “làm theo” tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ cấp ủy về vị trí, vai trò, tầm quan trọng công tác kiểm tra, giám sát trong công tác lãnh đạo của Đảng. Xây dựng văn hóa công sở, văn hóa nhà trường lành mạnh, môi trường làm việc thân thiện, hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “lợi ích nhóm” trong Nhà trường. Thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và chính quyền từ Đại học tới các đơn vị thành viên theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục hoàn thiện và đưa vào sử dụng hệ thống văn bản về tổ chức và quản lý Nhà trường theo Luật Giáo dục sửa đổi và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới Nhà trường theo định hướng tự chủ gắn với tình hình thực tiễn; tăng cường tính tự chủ, tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị trực thuộc và nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát của cấp trên.

Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế

3.jpg

Đ/c Lê Hồng Thắng, Bí thư Đảng bộ bộ phận, Hiệu trưởng Trường Ngoại ngữ ĐHTN

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, công cụ ngoại ngữ đang ngày càng trở nên vô cùng thiết yếu và quan trọng và công tác đào tạo bồi dưỡng ngoại ngữ đặc biệt cho các địa phương khu vực trung du miền núi phía Bắc, cũng như nâng cao chuẩn ngoại ngữ cho giảng viên đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên và luôn được ưu tiên hàng đầu của Nhà trường. Do đó, tạo cơ chế để phát huy tối đa nguồn lực chung về đội ngũ của toàn Đại học trong công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, nhằm phát huy thế mạnh của đại học vùng, nâng cao hiệu quả, hiệu suất sử dụng các nguồn lực chung của toàn Đại học là giải pháp quan trọng đầu tiên. Tiếp đó, giải pháp thứ hai chúng tôi muốn đề xuất Đại học là đầu mối chỉ đạo chung và Trường Ngoại ngữ sẽ là đầu mối về mặt chuyên môn. Cùng với đó, tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống E-learning và Live class để đa dạng hóa các phương thức đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, đáp ứng tối đa nhu cầu và phù hợp với điều kiện của người học. Đây là giải pháp hoàn toàn phù hợp với xu thế công nghệ hiện nay bởi nó cho phép người học có thể học mọi nơi, mọi lúc, tăng tính chủ động của người học; đồng thời nó cho phép huy động giáo viên không chỉ trong nước, mà cả giáo viên người bản ngữ cùng tham gia giảng dạy, đặc biệt các giáo viên đầu ngành về lĩnh vực đào tạo ngoại ngữ, mà không cần phải trực tiếp có mặt tại cơ sở đào tạo. Điều đó sẽ làm giảm đáng kể các chi phí cho công tác tổ chức đào tạo. Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cao nhận thức của cán bộ giảng viên trong việc nâng cao chuẩn năng lực ngoại ngữ. Tiếp tục áp dụng các giải pháp đã xác định trong Đề án chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ cho cán bộ giảng dạy của ĐHTN, trong đó, đặc biệt chú trọng nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế, nhằm tìm kiếm cơ hội, đầu tư để cán bộ, giáo viên, đặc biệt là giáo viên ngoại ngữ được bồi dưỡng năng lực thường xuyên.    

Đổi mới công tác thực hành, thực tập của người học

4.jpg

Đ/c Nguyễn Tiến Dũng, Bí thư  Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Y- Dược

Đào tạo gắn liền với thực tiễn là một trong những yếu tố then chốt, quyết định tới sự tồn tại và phát triển của một trường đại học. Tuy nhiên, trên thực tế thì công tác thực hành, thực tập trong tổ chức đào tạo ở nhiều trường còn tồn tại một số hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo thực hành của sinh viên. Trước thực tế này, đề xuất đầu tiên là mỗi một trường đại học cần phải thiết lập mạng lưới cơ sở thực hành đủ về số lượng, đáp ứng các tiêu chuẩn chuyên môn thuộc các lĩnh vực đào tạo của Trường, đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, giải quyết bài toán quá tải về số lượng sinh viên đến thực tập do thiếu cơ sở thực hành. Nhà trường cũng nên phối hợp với cơ sở thực hành tạo cơ hội cho sinh viên thực hành phương pháp nghiên cứu, kết quả của những nghiên cứu ứng dụng này có thể là một khởi đầu cho sự hợp tác lâu dài giữa nhà trường và cơ sở. Các cơ cở đào tạo cần đẩy mạnh công tác đổi mới các chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học. Cần loại bỏ tư tưởng đầu tư hời hợt, đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo một cách thiếu bền vững, để chuyển sang phương thức đào tạo gắn chặt với các hoạt động thực tiễn nảy sinh từ những thách thức và đòi hỏi của xã hội ngày càng cao. Để làm được điều đó, ngoài các chính sách hỗ trợ nội sinh thì các trường cũng cần phải biết huy động tốt các kênh đầu tư, kết hợp bên ngoài nhà trường (xã hội hóa). Các trường cần phải thực hiện nhiều chính sách nhằm nâng cao đãi ngộ cho giảng viên hướng dẫn thực hành. Tranh thủ khai thác kiến thức chuyên môn thực hành nghề nghiệp của các giảng viên thỉnh giảng tại cơ sở thực hành, tăng cường vai trò, trách nhiệm của họ trong công tác phối hợp đào tạo và quản lý sinh viên, cần bồi dưỡng cho họ phương pháp dạy học thực hành tích cực theo hướng tiệm cận dựa trên năng lực. Cùng với đó, việc xây dựng quy trình lượng giá sinh viên một cách chặt chẽ và khoa học là hết sức cần thiết và quan trọng. Bởi quá trình thực hành thực tập chỉ thực sự có kết quả tốt nếu sinh viên nắm rõ được những yêu cầu cần phải đạt được trong quá trình thực tập, những nội dung gì sẽ được lượng giá. Bên cạnh đó cũng cần phải xây dựng và hoàn thiện quy trình quản lý, đánh giá sinh viên một cách chặt chẽ và khoa học, đảm bảo tính khách quan và toàn diện. Có như vậy hiệu quả công tác đào tạo thực hành thực tập chuyên môn cho sinh viên sẽ từng bước được nâng lên.

Đổi mới quản trị đại học theo hướng tự chủ

5.jpg

Đ/c Nguyễn Văn Tảo, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông

Trong xu hướng tự chủ đại học của Việt Nam và thế giới, thời gian tới ĐHTN cần có những chiến lược, chính sách để tiếp cận phương thức quản trị đại học hiện đại, coi đại học như một doanh nghiệp với ngành nghề kinh doanh đặc thù. Tôi xin gửi tới đại hội một số định hướng, giải pháp về nội dung này: Đó là nâng cao năng lực quản lý tự chủ cho đội ngũ quản lý, lãnh đạo các cấp của toàn Đại học thông qua bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý tự chủ. Hoàn thiện bộ máy tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu lực, giảm đầu mối thực hiện công việc, tránh dàn trải, trùng lặp giữa các đơn vị, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế, quy mô phát triển của Đại học. Xây dựng bản đồ chiến lược của Đại học, hệ thống chức danh, định biên nhân sự, quy trình tác nghiệp theo chuẩn để việc phối hợp công tác nhịp nhàng, hiệu quả giữa các bộ phận, đơn vị, cá nhân đối với từng công việc. Qua đó, tăng cường đảm bảo tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, giúp cho mỗi đơn vị thành viên xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, chủ động, tích cực hơn trong công việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ. Xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nội bộ cập nhật, phù hợp với tình hình thực tế của Đại học và quy định của cấp trên. Tăng cường hơn nữa việc phân quyền tự chủ cho các đơn vị, nhất là các đơn vị thành viên trong việc quyết định nội dung đào tạo, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và đánh giá trên cơ sở các quy định, chuẩn mực kiểm định quốc tế; tăng cường đảm bảo chất lượng bên trong, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý về tự chủ đại học, vai trò của Hội đồng trường thông qua các chương trình tập huấn, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm bởi các chuyên gia trong và ngoài nước từ các cơ sở giáo dục đã thực hiện tự chủ; đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông, nhất là truyền thông nội bộ. Xây dựng văn hóa tự chủ và trách nhiệm xã hội trong Đại học. Mặt khác, xây dựng văn hóa nhà trường còn là một yêu cầu tất yếu của chính sách phát triển, quảng bá thương hiệu - tài sản vô hình của ĐHTN và các đơn vị thành viên. Cùng với hệ thống văn bản quản lý nội bộ, hệ thống quy trình tác nghiệp theo chuẩn, hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ mọi hoạt động của Đại học, đảm bảo liên thông, chính xác và kịp thời.

Cần tăng cường chuyển giao công nghệ trong điều kiện tự chủ

6.jpg

Đ/c Nguyễn Thế Hùng, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm

Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, đến nay Trường Đại học Nông Lâm đã trở thành cái nôi trong công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho các tỉnh trung du - miền núi phía Bắc về lĩnh vực nông - lâm nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, tài nguyên và môi trường. Với xu thế tất yếu của “tự chủ” trong thời gian tới, ngoài nguồn thu từ đào tạo thì nguồn thu từ chuyển giao công nghệ cũng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong các nhà trường. Việc xác định hướng đi, cách tiếp cận các chương trình chuyển giao là hết sức cần thiết, đòi hỏi phải có những giải pháp cụ thể. Theo đó, chuyển giao công nghệ phải được các nhà trường coi đó là một hoạt động tạo nguồn thu chính, đóng góp vào ngân sách chung của nhà trường, đặc biệt trong điều kiện tự chủ. Tập trung đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm cho các nhiệm vụ KH&CN tạo ra sản phẩm có tính ứng dụng cao, có khả năng chuyển giao cho các doanh nghiệp và địa phương; đặc biệt chú trọng đến các công nghệ hiện đại, tiên tiến, đáp ứng nhu cầu thực tiễn sản xuất; tránh hiện tượng nghiên cứu xong bỏ đấy, không theo kịp tiến trình phát triển của xã hội. Có cơ chế khuyến khích các nhà khoa học chủ động tìm kiếm các nhu cầu công nghệ theo lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm; từ đó sẽ có cơ sở cho việc định hướng các vấn đề cần nghiên cứu để chuyển giao. Đa dạng hóa phương thức chuyển giao công nghệ cho các đơn vị có nhu cầu bằng các hình thức khác nhau như thông qua việc chuyển giao các công nghệ được hình thành từ dự án thử nghiệm; triển khai thực hiện các hợp đồng chuyển giao từ kết quả của các nhiệm vụ KH&CN các cấp; tư vấn các dịch vụ KH&CN hoặc là cầu nối KH&CN. Thành lập doanh nghiệp KH&CN trong các trường đại học theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Nhà trường cần có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện để các cá nhân, tập thể đảm bảo tính pháp lý được thành lập doanh nghiệp nhằm tăng cường vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm, sáng tạo trong tìm kiếm, khai thác các chương trình chuyển giao. Đồng thời, tăng cường tìm kiếm, khai thác kinh phí chuyển giao công nghệ từ các Bộ, Ban, Ngành và địa phương.

Giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác giữa Nhà trường và Doanh nghiệp trong đào tạo

7.jpg

Đ/c Ngô Như Khoa, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp

Sự gắn kết, liên kết Nhà trường với doanh nghiệp đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và cụ thể hóa trong nhiều nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước, Chính phủ. Với vai trò là đơn vị sử dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo, doanh nghiệp vừa là khởi nguồn của nhu cầu, vừa là chủ thể thúc đẩy việc giải quyết nhu cầu nguồn nhân lực. Với vai trò đào tạo nguồn nhân lực, Nhà trường cần phát huy thế mạnh của mình trong nắm bắt, tạo giải pháp để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp cả về nguồn nhân lực lẫn sản phẩm trí tuệ. Cũng thông qua hợp tác với Doanh nghiệp, Nhà trường có điều kiện để đổi mới cơ cấu tổ chức và quản lý theo hướng hiệu quả; xây dựng, điều chỉnh, cập nhật chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và định hướng nghiên cứu phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp - nhà tuyển dụng. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả hợp tác giữa Nhà trường - doanh nghiệp cần chú trọng một số giải pháp: Phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý làm cầu nối giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo; tăng cường đào tạo sinh viên gắn với thực tiễn nhu cầu của xã hội. Xây dựng, bổ sung và điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng và hướng mở. Xây dựng chương trình đào tạo có sự tham gia của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp lớn của các ông chủ là cựu sinh viên của Nhà trường. Phối hợp các doanh nghiệp tổ chức đào tạo và đánh giá tại doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học, dự án, tư vấn, thẩm định và chuyển giao công nghệ phục vụ trực tiếp cho phát triển KT-XH và mục tiêu phát triển của hai bên. Tăng cường chặt chẽ với các thế hệ cựu sinh viên, đây là những người từng làm “đại sứ” cho hoạt động quảng bá cho thương hiệu nhà trường. Thông qua hợp tác với các doanh nghiệp, nhà trường dự báo, xây dựng và phát triển chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội trên cơ sở đội ngũ cơ hữu của Nhà trường.

 

Giải pháp đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và bồi dưỡng giảng viên trẻ

8.png

Đ/c Nguyễn Văn Đăng, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác nghiên cứu khoa học nói chung và công bố quốc tế nói riêng, nhiệm kỳ qua Trường Đại học Khoa học đã ban hành nhiều nghị quyết và có nhiều chính sách nhằm khuyến khích và tạo điều kiện tối đa để các giảng viên trẻ đi học tập nâng cao trình độ, phát huy hết khả năng của mình trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là công bố bài báo trên các tạp chí uy tín. Trường Đại học Khoa học luôn xác định chính sách là một động lực quan trọng nhất để phát triển đội ngũ. Do đó liên tiếp trong nhiều năm Nhà Trường đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm phát triển đội ngũ, khuyến khích và tạo động lực để cán bộ nghiên cứu khoa học. Trở ngại lớn nhất của công bố quốc tế là năng lực sử dụng ngoại ngữ chuyên ngành, đặc biệt là tiếng anh. Trường Đại học Khoa học xác định năng lực tiếng anh của cán bộ không chỉ dựa vào chứng chỉ mà còn dựa vào thực lực mà cán bộ đó sử dụng tiếng anh trong chuyên môn và viết bài báo. Thực tế đã chứng minh có nhiều cán bộ có chứng chỉ quốc tế nhưng lại không có công bố quốc tế, ngược lại nhiều cán bộ có khả năng viết bài, báo cáo hội thảo bằng tiếng anh nhưng trong tay lại không có chứng chỉ nào. Do đó, nhà trường đã ra các chính sách quy đổi và công nhận năng lực ngoại ngữ nếu cán bộ có khả năng công bố quốc tế tốt thay cho chứng chỉ ngoại ngữ. Đây là bài học quan trọng nhất của Trường Đại học Khoa học đã làm được, qua đó xây dựng được tinh thần tự học ngoại ngữ của cán bộ phục vụ nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Về xây dựng cơ sở vật chất, điều chúng tôi mong muốn sẽ tiếp tục được sự quan tâm của cấp trên để công trình nhà thí nghiệm được khởi công, để đồng bộ hoá ba vấn đề thúc đẩy công bố khoa học quốc tế là con người, chính sách, cơ sở vật chất và trang thiết bị nghiên cứu.

Trần Nhung (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên)